[Luận án 2021] Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế

[Luận án 2021] Pháp luật về Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam THÔNG TIN LUẬN ÁN Trường: Đại học Luật Đại học Huế Tác giả: TS. Nguyễn Văn Đông Định dạng: PDF/Word Số trang: 174 trang Năm: 2021 1. Tính cấp thiết của đề tài…

[Luận án 2021] Pháp luật về Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

THÔNG TIN LUẬN ÁN

  • Trường: Đại học Luật Đại học Huế
  • Tác giả: TS. Nguyễn Văn Đông
  • Định dạng: PDF/Word
  • Số trang: 174 trang
  • Năm: 2021

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện nay có trên 96 triệu dân và hơn 70% trong số đó sống bằng nghề nông nghiệp. Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập và tạo ra sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho toàn xã hội. Đất là nơi làm nhà, là nơi con người tạo ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân mình. Vì vậy, việc bảo vệ đất nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người dân cũng như Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đô thị. Để thực hiện quá trình chuyển hóa này, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất nông nghiệp của người dân. Việc thu hồi đất không chỉ liên quan đến lợi ích thiết thực của người bị thu hồi đất mà còn đụng chạm đến lợi ích của nhà đầu tư, của xã hội và cả Nhà nước. Đây là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của người nông dân và đồng thời cũng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Luật Đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung, khắc phục được nhiều điểm hạn chế của LĐĐ năm 2003. Tuy nhiên, sau một khoản thời gian thi hành thì LĐĐ năm 2013 cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Việc thu hồi đất cũng phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp dẫn đến khiếu kiện kéo dài, phức tạp. Báo cáo tại Phiên họp thứ 37 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, năm 2019, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm 67,7% các loại khiếu kiện. Không phải lúc nào giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất cũng tìm được tiếng nói chung. Những trường hợp bất đồng giữa các bên về việc thu hồi đất sẽ dẫn đến việc người bị thu hồi đất khiếu kiện là việc hiển nhiên. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách và pháp luật về thu hồi đất, trong đó quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, các mức bồi thường, tài sản và các chính sách hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồi đất, nhưng quá trình thực hiện vẫn nãy sinh nhiều vấn đề bất cập, hạn chế, thiếu sót, chưa đồng bộ. Nhiều nội dung của pháp luật về thu hồi hồi đất nông nghiệp chưa phù hợp với thực tiễn như: Khung giá đất, cơ chế, thời điểm, diện tích thu hồi đất, tái định cư, giải quyết việc làm, hỗ trợ trong việc thu hồi đất, tiêu cực, tham nhũng len lỏi trong quá trình thu hồi đất của người sử dụng. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách về đất đai nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng có hiệu quả nguồn đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũng đất đai” [1, tr.109-110]. Đặc biệt việc thu hồi đất được quy định trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 3 Điều 54 “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Trong thực tế có những dự án Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, nhà đầu tư chấp nhận bỏ ra các chi phí lớn hơn thậm chí là bồi thường rất hậu hĩnh, đặc biệt sử dụng chính sách hỗ trợ khác đó là: Bên cạnh chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ về đào tạo nghề còn có chính sách hỗ trợ khác do các địa phương vận động tốt được dự án đầu tư với chủ đầu tư bỏ ra các khoản chi phí ngoài lề thậm chí doanh nghiệp bỏ tiền túi của mình nhưng cảm thấy rất vui vẻ vì người dân nhanh chóng trả lại đất nông nghiệp để chủ đầu tư thực hiện dự án.

Có thể khẳng định LĐĐ năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa giải quyết được bài toán đảm bảo sự hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa “hạ nhiệt” các khiếu kiện, vấn đề công khai, minh bạch, dân chủ chưa thực sự được phát huy, vẫn còn lạm quyền trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chưa phát huy hết tác dụng tích cực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Do vậy, việc nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội là việc làm hết sức cần thiết về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Đồng thời, thông qua đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội nhằm hoàn thiện các quy định của LĐĐ về thu hồi đất cũng như nâng cao chất lượng đời sống của nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam” để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật kinh tế.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích

Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; phân tích thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội nhằm phát hiện những tồn tại, bất cập; trên cơ sở đó, luận án đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở nước ta.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

– Luận án làm rõ thực trạng nghiên cứu những công trình tiêu biểu ở trong nước, nước ngoài liên quan các nội dung của Luận án. Từ đó xác định những nội dung Luận án sẽ kế thừa, những nội dung Luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu để đạt được mục đích nghiên cứu.

– Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng về thu hồi đất; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền tài sản của người sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất; khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa, cơ sở của việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; cơ cấu điều chỉnh của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; pháp luật của một số nước trên thế giới về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội.

– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này ở Việt Nam.

– Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Nhà nước ta; trong đó có nội dung liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội.

– Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội. Luận án cũng nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới như: Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc.

– Các công trình khoa học về thu hồi đất, trong đó có thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội đã được công bố trong thời gian qua ở trong và ngoài nước.

– Các số liệu, vụ việc thực tiễn về áp dụng các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2020

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung cụ thể sau:

– Về nội dung: Các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định về nội dung, thẩm quyền trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; quy định về bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội.

– Về không gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội trong phạm vi Việt Nam.

– Về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội từ năm 2014 đặt trong mối liên hệ, so sánh với LĐĐ năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến năm 2020.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin trong việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của sự vật, hiện tượng; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đặt trong mối quan hệ tương tác với các sự vật, hiện tượng khác.

– Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận logic v.v.. được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án.

– Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu v.v.. được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

– Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát, phương pháp nghiên cứu tình huống.v.v.. được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

– Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch v.v.. được sử dụng tại Chương 4 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về phương diện lý luận, luận án là công trình nghiên cứu lý luận có tính chuyên sâu về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam, trong đó tập trung vào việc làm rõ những vấn đề về căn cứ để thu hồi đất nông nghiệp, trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp; các hậu quả về kinh tế và pháp lý của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội.

Về phương diện thực tiễn, luận án là công trình đánh giá toàn diện đối với thực trạng pháp luật Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và thực tiễn thực hiện các quy định này cùng với những tác động của nó đối với nền kinh tế – xã hội Việt Nam. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian qua.

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị, cho những người trực tiếp làm công tác thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội.

6. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam hiện nay. Luận án có những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, hệ thống hóa, bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; tính tất yếu khách quan của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; hậu quả của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và trách nhiệm của nhà nước; ý nghĩa của việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; phân biệt được thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội với thu hồi đất nông nghiệp vì mục đích kinh doanh của nhà đầu tư.

Thứ ba, đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng ở các địa phương.

Thứ tư, đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài lời cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được bố cục với 04 chương cụ thể như sau:

– Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan đến luận án

– Chương 2. Những vấn đề lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

– Chương 3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

– Chương 4. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

Bạn đang xem bài viết: [Luận án 2021] Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế. Thông tin được tạo bởi Gia Sư Minh Đức chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.

Rate this post

Similar Posts